Thời gian gần đây, không ít người xem trí năng nhân tạo như một người bạn tâm giao. Nửa đêm không ngủ được thì họ mở máy ra kể. Có chuyện trong lòng mà chưa nói được với ai thì họ gõ vào đó. Công cụ trả lời ngay, không phán xét, không mệt, không bận, và không bao giờ ngắt lời.
Với nhiều người, đó là lần đầu tiên họ được nói hết một câu chuyện mà không bị ai chen vào. Điều ấy có giá trị thật, và không nên bị xem thường.
Nhưng điều này cũng đặt ra một câu hỏi, và câu hỏi ấy đã được một học viên nêu lên ở cuối buổi chia sẻ chuyên đề "Những nguyên lý trị liệu chấn thương cơ bản" tối Chủ nhật vừa rồi. Anh muốn biết công cụ này ảnh hưởng tới công việc trị liệu ở mức nào, và liệu có tới lúc nó đứng thay chỗ con người hay không.
TS. Lê Nguyên Phương không trả lời có hay không. Ông tách câu hỏi ra làm hai phần khác nhau.
Phần thứ nhất là chất lượng thông tin. Một mô hình chạy trên kho tài liệu chuyên môn đã thẩm định thì kết quả có giá trị tham khảo. Và một mô hình đi lùng thông tin trên mạng rồi tổng hợp lại thì không có giá trị ấy. Khi làm việc bằng tiếng Việt, độ chính xác còn giảm thêm một bậc nữa, vì kho ngữ liệu tiếng Việt dùng để huấn luyện mỏng hơn hẳn, và phần chuyên ngành tâm lý lại càng mỏng. Điều đáng lưu ý là kết quả trả về vẫn trôi chảy và mạch lạc, nên người đọc dễ tin hơn mức nó đáng được tin.
Phần thứ hai mới là chỗ ông dừng lại lâu. Giới hạn thật của máy không nằm ở kiến thức, mà nằm ở năng lực cộng hưởng.
Người ngồi trước một thân chủ không chỉ nghe nội dung câu chuyện. Họ còn cảm nhận được những gì đang biến chuyển trong thân người kia. Ông nêu hai dấu hiệu rất cụ thể. Khi một người bị kích hoạt, cơ thể họ phát ra mùi khác và tần số giọng nói của họ cao lên.
Đó là những tín hiệu mà máy chưa xử lý được. Đó cũng là những tín hiệu mà người thực hành ít khi được dạy cách nhận diện.
Điều này không phải một nhận xét về công nghệ. Nó là một nhận xét về bản chất của trải nghiệm con người.
Trải nghiệm của một người không đi qua một kênh duy nhất. Nó đi qua cảm giác trên thân, qua hình ảnh, qua hành vi, qua cảm xúc, rồi mới tới suy nghĩ và lời nói. Lời kể là kênh xuất hiện muộn nhất, và trong nhiều trường hợp cũng là kênh sai lệch nhất.
Khi một trải nghiệm vượt quá cửa sổ chịu đựng [window of tolerance] của hệ thần kinh, vùng não xử lý ngôn ngữ giảm hoạt động. Người ta cảm rất rõ mà không nói ra được. Hoặc họ nói ra được, nhưng cái được nói ra không phải cái đang diễn ra.
Đây cũng là lý do vì sao việc kể hết một câu chuyện cho một cỗ máy nghe, dù có làm người ta nhẹ đi trong chốc lát, vẫn chưa chạm tới chỗ đang giữ lại phản ứng ấy.
Cũng trong buổi tối hôm đó, ông kể lại một quan sát quen thuộc trong phòng tham vấn. Có những thân chủ khi nhắc tới cha mẹ thì tự nhiên đưa tay lên như che chắn. Họ chưa diễn đạt được thành lời, nhưng cơ thể đã phản ứng trước rồi. Nó co lại, nó tránh đi, hoặc nó chuẩn bị để bảo vệ.
Một hệ thống chỉ đọc chữ sẽ không nhìn thấy bàn tay ấy.
Còn một điều nữa nằm sâu hơn. Trong công việc này, sự an toàn không được tạo ra bằng lời trấn an. Nó được tạo ra bằng hai điều xảy ra nối tiếp nhau giữa hai con người.
Điều thứ nhất là đồng điệu [attunement]. Người tham vấn chủ động dò và bắt nhịp với trạng thái của thân chủ. Họ chậm lại khi người kia đang dồn dập. Họ hạ giọng xuống khi người kia đang căng. Họ để khoảng lặng dài hơn khi người kia chưa nói được. Đây là một việc có chủ ý, và là một kỹ năng luyện được.
Điều thứ hai là cộng hưởng [resonance]. Đây là cái xảy ra sau khi nhịp đã bắt được. Người tham vấn cảm thấy trong chính thân mình một phần của điều thân chủ đang mang. Đây không phải một thao tác, mà là một hiện tượng. Người tham vấn không tạo ra nó bằng ý chí, họ chỉ có thể tạo điều kiện cho nó xuất hiện.
Nói ngắn gọn, đồng điệu là mình chỉnh về phía người kia, còn cộng hưởng là lúc hai bên cùng rung một nhịp.
Cả hai đều không đi qua nội dung câu chữ. Chúng đi qua nhịp thở, qua tốc độ nói, qua ánh mắt, và qua việc người kia có thật sự đang ở đó hay không. Một người đang quá tải lấy lại được thăng bằng một phần nhờ ngồi cạnh một hệ thần kinh đang bình ổn.
Một cỗ máy bắt nhịp được với cách người ta viết. Nhưng nó không có một hệ thần kinh để cùng rung lên, và cũng không có một hệ thần kinh để cùng bình ổn với ai.
Vậy thì công cụ này dùng để làm gì. Nó dùng được cho phần chuẩn bị. Nó giúp đọc tài liệu, đối chiếu khung lý thuyết, gợi ý những hướng cần cân nhắc trước khi vào ca, và rà lại ghi chép sau ca. Đó là những việc thật, và làm được thì đỡ rất nhiều.
Điều nó không làm thay được là việc có mặt. Mà trong công việc này, có mặt không phải là điều kiện phụ. Nó chính là can thiệp.
Đọc được những tín hiệu ấy không phải là năng khiếu. Đó là một năng lực được huấn luyện, và được huấn luyện bằng chính thân mình trước.
Bởi trước khi có thể cảm được điều đang biến chuyển trong thân người khác, ta cần quen với việc nhận ra điều đang biến chuyển trong thân mình: lúc nào mình căng lên, lúc nào mình chậm lại, lúc nào mình đã rời khỏi phòng dù vẫn đang ngồi đó. Một hệ thần kinh chưa quen lắng nghe chính nó thì khó mà bình ổn được cùng ai.
Đó cũng là một nội dung trong Liệu pháp Chánh niệm Tâm-Thể (SOMI), chương trình do TS. Lê Nguyên Phương thiết kế, khai giảng cuối tháng 10 tại Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội.
Lộ trình chi tiết tại đây: https://wiseducation.vn/somia
WISEDUCATION
